Thứ tư 13/05/2026 23:32Thứ tư 13/05/2026 23:32 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Thuốc bảo vệ thực vật sinh học: Kinh nghiệm Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brazil

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Bùng nổ đăng ký sản phẩm thuốc BVTV sinh học ở các nước. Tại Hàn Quốc, cho phép bán hàng online thuốc BVTV, nghiêm cấm bán hàng online thuốc BVTV hóa học.
Mông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Ảnh minh họa.

Mông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Ảnh minh họa.

Thái Lan lập kênh ‘đăng ký nhanh’ thuốc sinh học

Thái Lan là một trong những nước sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hóa học khá nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Năm 2020, Thái Lan nhập khẩu trên 98 ngàn tấn thuốc BVTV hóa học, tương đương 945 triệu USD, trong khi đó nhập khẩu thuốc BVTV sinh học khoảng 1,6 triệu USD, mặc dù có một số thuốc BVTV sinh học được sản xuất trong nước.

Giảm sử dụng thuốc BVTV hóa học, loại bỏ các hoạt chất thuốc hóa học độc hại, tăng sử dụng thuốc sinh học được Thái Lan quan tâm, đặc biệt trong khoảng thời gian 10-15 năm gần đây.

Hiện tại, nông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Nghiên cứu tại Thái Lan đã chỉ ra một số khó khăn chính trong việc thúc đẩy sử dụng thuốc BVTV sinh học bao gồm: Hiệu lực của thuốc sinh học thấp hơn và chậm hơn thuốc hóa học; Thời gian bảo quản thuốc ngắn hơn và chất lượng thuốc dễ bị giảm do điều kiện bảo quản; Chuyên tính hẹp và không được phong phú về chủng loại của thuốc BVTV sinh học để đáp ứng nhu cầu của người sản xuất; Người sản xuất có nhận thức và hiểu biết hạn chế trong sử dụng thuốc BVTV sinh học. Ngoài ra, nguồn nhân lực về nghiên cứu, phát triển công nghệ thuốc BVTV sinh học của Thái Lan vẫn còn hạn chế.

Để thúc đẩy phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học, Thái Lan có quy định về kênh đăng ký nhanh (Fast track registration) đồng thời có sáng kiến ban hành Danh mục thuốc sinh học “độ rủi ro thấp” (minimum risk biopesticides). Năm 2021, số lượng các hoạt chất thuốc sinh học thuộc Danh mục này đã tăng từ 5 lên 17. Đối với các sản phẩm được sản xuất từ các hoạt chất trong Danh mục thuốc sinh học độ rủi ro thấp không cần phải thử nghiệm độc lý học (Toxicology test exempted), vì vậy thời gian chờ đăng ký được rút ngắn xuống còn khoảng 6-12 tháng.

Đối với các loại thuốc sinh học khác, thời gian thực hiện các thủ tục để được đăng ký tại Thái Lan là khoảng 18- 24 tháng, tương tự như ở Mỹ, Úc, nhanh hơn so với ở Nhật Bản và EU.

‘Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh’ ở Nhật Bản

Theo Mordor Intelligence (2023), thị trường thuốc BVTV sinh học của Nhật Bản có tổng giá trị năm 2023 khoảng trên 700 triệu USD, dự báo tăng trưởng 12%/năm giai đoạn 2023 - 2028. Nhật Bản là nước có chính sách khuyến khích sử dụng thuốc BVTV sinh học từ những năm 1950s, với lượng lớn, những năm gần đây đứng khoảng thứ 4 - thứ 5 trên thế giới (Tetsuo Tommy Wada, 2016).

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản đã công bố 'Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh' vào năm 2021. Ảnh minh họa.

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản đã công bố “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” vào năm 2021. Ảnh minh họa.

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản (MAFF) đã sửa đổi Quy định về Hóa chất Nông nghiệp vào năm 2018 và quy định đánh giá lại tất cả các sản phẩm BVTV đã đăng ký tại Nhật Bản phù hợp với thông tin khoa học mới nhất. Chương trình đánh giá lại bắt đầu vào năm 2021, yêu cầu đánh giá lại tất cả các sản phẩm BVTV đã đăng ký cứ sau 15 năm. Các tổ chức, cá nhân đăng ký thuốc được thông báo về việc đánh giá lại trước 2 năm. Mặc dù một số loại thuốc BVTV sinh học đã được đăng ký, MAFF có kế hoạch thiết lập một hướng dẫn mới về thuốc BVTV sinh học, đồng thời đưa ra quy trình đánh giá lại đối với thuốc sinh học.

Năm 2021, MAFF đã công bố “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” với mục tiêu cải thiện năng suất và tính bền vững của lương thực, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thông qua đổi mới. Tương tự như chiến lược “Từ trang trại đến bàn ăn” của châu Âu, “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” nhằm đạt được một số mục tiêu như không phát thải CO2, giảm 50% rủi ro hóa chất nông nghiệp; giảm 30% sử dụng phân bón hóa học vào năm 2050. Để duy trì các mục tiêu chiến lược, MAFF đang khuyến khích phát triển và giới thiệu thuốc BVTV sinh học cũng như các công nghệ liên quan dựa vào tự nhiên. Với việc thực hiện “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh”, vai trò của thuốc BVTV sinh học trên thị trường nông nghiệp Nhật Bản dự kiến ​​sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

Trong công tác quản lý thuốc BVTV sinh học, Nhật Bản rất coi trọng an toàn sinh học, chất lượng, hiệu quả của thuốc và vấn đề sở hữu trí tuệ.

Để thúc đẩy phát triển, ứng dụng các biện pháp sinh học, trong đó có việc sản xuất, sử dụng thuốc sinh học thay thế thuốc hóa học, Hội BVTV sinh học Nhật Bản (Japan Bio-control Association) đã được thành lập vào năm 2016, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các tập đoàn, doanh nghiệp lớn đang sản xuất, cung ứng thuốc BVTV sinh học.

4 động lực thúc đẩy tăng trưởng thuốc BVTV sinh học ở Hàn Quốc

Kể từ năm 2001, việc sử dụng thuốc BVTV hóa học ở Hàn Quốc đã giảm dần sau khi tăng từ năm 1970 đến năm 1990. Năm 2020, 16.278 tấn thuốc BVTV đã được sử dụng, giảm so với 16.745 tấn của năm trước. Sự sụt giảm này được lý giải là do nông dân nhận thức rõ hơn về sự cần thiết sử dụng thuốc BVTV sinh học thay thế thuốc hóa học.

Năm 2019, giá trị thị trường thuốc BVTV của Hàn Quốc là 1,26 tỷ USD, trong đó thuốc sinh học là 0,3 tỷ USD. Giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học của Hàn Quốc những năm gần đây tăng trưởng khoảng 5-10%/năm.

Các chất kích thích sinh học được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và được đánh giá là giải pháp mới. Ảnh minh họa.

Các chất kích thích sinh học được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và được đánh giá là giải pháp mới. Ảnh minh họa.

Động lực chính thúc đẩy tăng trưởng sản xuất và sử dụng thuốc BVTV tại Hàn Quốc bao gồm:

a) Chính sách tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm nông sản thông qua việc áp dụng hệ thống PLS (Positive List System); theo đó Hàn Quốc yêu cầu kiểm tra ATTP đối với 370 hoạt chất thuốc BVTV trên nông sản thực phẩm, bao gồm khoảng gần 240 hoạt chất được đăng ký tại Hàn Quốc và 134 hoạt chất chưa được đăng ký. Đối với các hoạt chất không được đăng ký tại Hàn Quốc, nước này áp dụng mức MRL mặc định là 0,01ppm hoặc thấp hơn. Quy định này đã khuyến khích việc sử dụng thuốc BVTV sinh học an toàn, không để lại dư lượng, đặc biệt ở giai đoạn cuối của cây trồng.

b) Hiện tượng kháng thuốc hóa học của nhiều đối tượng sinh vật hại cây trồng như: Bọ trĩ, nhện, nấm phấn trắng… đã khuyến khích người sản xuất sử dụng thuốc sinh học kết hợp hoặc thay thế thuốc hóa học do thuốc hóa học không có hiệu quả.

c) Sự xuất hiện của những sản phẩm thuốc BVTV sinh học mới, với dạng chế phẩm thuận tiện cho việc sử dụng, hiệu quả cao. Khoảng 10 năm trước, không ai tin rằng thuốc trừ sâu sinh học hoặc chất kích thích sinh học sẽ được bán với giá hơn 1 triệu USD mỗi năm dưới dạng một sản phẩm ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, một số sản phẩm đã chứng minh rằng định kiến này chắc chắn là sai. Một loại thuốc diệt nấm sinh học đã đạt doanh thu gần 10 triệu USD hàng năm và một số chất kích thích sinh học đã ghi nhận doanh thu hàng năm hơn 1 triệu USD. Thực tế này chứng tỏ rằng thuốc trừ sâu sinh học và chất kích thích sinh học đang ngày càng được coi trọng hơn và sử dụng rộng rãi, hiệu quả hơn tại Hàn Quốc.

d) Sự phát triển rộng rãi của hình thức giới thiệu và bán hàng online đã góp phần thúc đẩy sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học. Hàn Quốc quy định được phép bán thuốc BVTV sinh học online, trong khi đó hình thức bán hàng này không được phép đối với thuốc BVTV hóa học.

Một điều đáng chú ý là tại Hàn Quốc những năm gần đây, trên thị trường đã xuất hiện các chất kích thích sinh học (bio-stimulants). Các chất này cũng được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và đang được nông dân đánh giá cao, là một giải pháp mới trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, đặc biệt là tăng khả năng chịu đựng của cây trồng đối với các điều kiện bất thuận như hạn hán, lũ lụt, thay đổi nhiệt độ cao hay thấp và nứt quả. Sự thành công của chất giữ nước trong đất (Smart Water) và chất chống nứt quả (Fitomaat) chứng tỏ xu hướng mới này đang ngày càng phát huy hiệu quả thực tế trong lĩnh vực sản xuất và ứng dụng thuốc BVTV sinh học ở Hàn Quốc.

Brazil: Bùng nổ đăng ký sản phẩm sinh học

Thị trường thuốc trừ sâu sinh học Brazil ước tính đạt khoảng 340 triệu USD vào năm 2021, nhưng dự đoán rằng thuốc trừ sâu sinh học có tiềm năng tăng 107% đến năm 2030, đạt khoảng 700 triệu USD. Đặc biệt, hơn 2,5 triệu ha trồng đậu tương ở Brazil đã được xử lý bằng thuốc sinh học phòng trừ tuyến trùng trong vụ mùa 2018/2019.

Tại Brazil, thuốc sinh học trừ tuyến trùng được sử dụng trên 90% diện tích trồng đậu tương và khoảng 70% tổng lượng thuốc sinh học trừ tuyến trùng được sử dụng trên đậu tương.

Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023 - 2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023 - 2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Năm 2013, chỉ có 107 loại thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Brazil. Năm 2023, số lượng sản phẩm sinh học được đăng ký ở Brazil là 502 chứng tỏ rằng xu hướng phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học rất mạnh mẽ tại quốc gia này. Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023 - 2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Brazil có quy định cho phép sản xuất thuốc BVTV vi sinh ở quy mô trang trại (on-farm biopesticide production) với mục đích “phi thương mại” (non-commercial purpose) Người sản xuất để tự sử dụng không phải đăng ký thuốc, không cần chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, chỉ cần ghi chép nhật ký một số thông tin cơ bản quá trình sản xuất, sử dụng các chủng vi sinh có trong Danh mục đăng ký hoặc các chủng vi sinh bản địa.

nongnghiep.vn

Bài liên quan

Khi AI số hóa vị ngọt quê hương – Kỳ 3: "Chìa khóa" để xây dựng hệ sinh thái “sống Xanh"”

Khi AI số hóa vị ngọt quê hương – Kỳ 3: "Chìa khóa" để xây dựng hệ sinh thái “sống Xanh"”

Tại Hà Tĩnh, nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn chính là mệnh lệnh từ thực tiễn để định vị lại thương hiệu nông sản, tạo nên một hệ sinh thái “sống Xanh” đúng nghĩa.
Nông nghiệp xanh và cuộc tái sinh thầm lặng của nền nông nghiệp Việt

Nông nghiệp xanh và cuộc tái sinh thầm lặng của nền nông nghiệp Việt

Không ồn ào như những cuộc cải cách lớn, nông nghiệp xanh đang diễn ra như một cuộc tái sinh thầm lặng trên khắp các vùng quê, rõ nét nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Từ những thửa ruộng giảm phát thải đến các mô hình sản xuất gắn với truy xuất nguồn gốc, một cách làm nông mới đang hình thành, nơi người nông dân không chỉ sản xuất mà còn gìn giữ đất đai và nguồn nước. Khi thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn và biến đổi khí hậu hiện hữu trong từng mùa vụ, chuyển đổi xanh không còn là xu hướng mà đã trở thành điều kiện để tồn tại.
Gạo tím than “Lò gạch cũ” ở Đà Nẵng: Nâng tầm giá trị nông sản

Gạo tím than “Lò gạch cũ” ở Đà Nẵng: Nâng tầm giá trị nông sản

Gạo tím than “Lò gạch cũ” tại Đà Nẵng phát triển theo hướng chuyển đổi hữu cơ, nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ.
TP Đà Nẵng: Hành trình làm giàu trên đất khó của nông dân Quế Sơn

TP Đà Nẵng: Hành trình làm giàu trên đất khó của nông dân Quế Sơn

Phát triển hồ tiêu hữu cơ kết hợp cây ăn quả, một nông dân Quế Sơn đạt thu nhập hơn 700 triệu đồng mỗi năm, hướng đến nông nghiệp bền vững.
"Bản giao hưởng" giữa tri thức và khát vọng xanh trên miền đất núi lửa

"Bản giao hưởng" giữa tri thức và khát vọng xanh trên miền đất núi lửa

Giữa bối cảnh nông nghiệp xanh trở thành mệnh lệnh chiến lược toàn cầu, HTX Nông lâm nghiệp hữu cơ Quảng Phú (tỉnh Lâm Đồng) đã tạo nên một hiện tượng kinh tế nông thôn: Biến vùng đất đá núi lửa cằn cỗi thành “thủ phủ” trái cây hữu cơ công nghệ cao. Đây không chỉ là câu chuyện về nghị lực vượt khó, mà là minh chứng cho sự kết hợp hoàn hảo giữa tri thức đại học, công nghệ số và khát vọng chinh phục thị trường quốc tế.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, số, tuần hoàn

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, số, tuần hoàn

Năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung thực hiện mục tiêu tổng quát là tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái và đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đắk Lắk: Người dân Ea Ô rộn ràng trên những "cánh đồng vàng" bội thu

Đắk Lắk: Người dân Ea Ô rộn ràng trên những "cánh đồng vàng" bội thu

Những ngày này, trên khắp các cánh đồng xã Ea Ô, tỉnh Đắk Lắk, không khí thu hoạch lúa vụ Xuân Hè diễn ra khẩn trương, rộn ràng. Tiếng máy gặt đập liên hợp hòa cùng niềm vui của bà con nông dân khi vụ mùa năm nay đạt năng suất cao, bình quân từ 8–9 tấn/ha.
Quảng Ninh: Nông dân Phường Yên Tử hứng khởi thu hoạch vải chín sớm

Quảng Ninh: Nông dân Phường Yên Tử hứng khởi thu hoạch vải chín sớm

Từ cuối tháng 4/2026 đến nay, tại các ngả đường khu Đá Bạc, Hiệp An, Phong Thái thuộc Phường Yên Tử trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết bởi đã đến mùa thu hoạch vải chín sớm Phương Nam. Tiếng cười nói xen lẫn tiếng kéo cắt cành, tiếng gọi nhau í ới tạo nên một bức tranh lao động đầy sức sống.
Công ty Syngenta giới thiệu giống ngô lai đơn F1 biến đổi gen đến bà con nông dân

Công ty Syngenta giới thiệu giống ngô lai đơn F1 biến đổi gen đến bà con nông dân

Công ty Syngenta phối hợp với Hội Nông dân xã Ea Kar, (tỉnh Đắk Lắk) đã tổ chức hội thảo đầu bờ nhằm giới thiệu giống ngô lai đơn F1 biến đổi gen NK7328 Bt/GT đến đông đảo bà con nông dân trên địa bàn.
Gạo tím than “Lò gạch cũ” ở Đà Nẵng: Nâng tầm giá trị nông sản

Gạo tím than “Lò gạch cũ” ở Đà Nẵng: Nâng tầm giá trị nông sản

Gạo tím than “Lò gạch cũ” tại Đà Nẵng phát triển theo hướng chuyển đổi hữu cơ, nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đắk Lắk: Thêm 12 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 3 – 4 sao

Đắk Lắk: Thêm 12 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 3 – 4 sao

Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức hội nghị đánh giá đợt II năm 2025 đối với các sản phẩm tiềm năng trên địa bàn. Hội nghị do ông Nguyễn Thiên Văn Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng OCOP cấp tỉnh chủ trì, với sự tham gia của các thành viên Hội đồng, đại diện các sở, ngành và các chủ thể sản xuất.
Nghệ An: Xót xa hơn 5.000 con gà bị sốc nhiệt, nằm chết la liệt do chập điện

Nghệ An: Xót xa hơn 5.000 con gà bị sốc nhiệt, nằm chết la liệt do chập điện

Sự cố chập điện diễn ra trong thời gian ngắn nhưng đã khiến hơn 5.000 con gà trong trang trại một hộ chăn nuôi ở xã Con Cuông (Nghệ An) bị chết, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế.
Nghề ủ nước tương truyền thống trước sức ép công nghiệp hóa nông nghiệp

Nghề ủ nước tương truyền thống trước sức ép công nghiệp hóa nông nghiệp

Trong khi ngành sản xuất nước tương toàn cầu ngày càng công nghiệp hóa, nhiều cơ sở thủ công tại Trung Quốc và Hong Kong vẫn duy trì phương pháp lên men tự nhiên phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nguyên liệu nông nghiệp và điều kiện khí hậu. Tuy nhiên, chi phí đất đai tăng cao, sản lượng đậu tương biến động và cạnh tranh từ sản phẩm sản xuất nhanh đang đặt ra thách thức lớn cho một ngành nghề gắn chặt với nông nghiệp truyền thống hàng nghìn năm.
Quảng Ninh: Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đến năm 2030

Quảng Ninh: Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đến năm 2030

Tỉnh Quảng Ninh tập trung phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đến năm 2030, mỗi sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh sẽ có ít nhất 10% diện tích trở lên áp dụng quy chuẩn nuôi, trồng đạt chuẩn VietGAP, GAP, hữu cơ hoặc được chứng nhận áp dụng quy phạm nuôi trồng thủy sản tốt.
Rượu vang Trung Quốc vươn tầm quốc tế, mở rộng giá trị nông nghiệp từ vùng núi cao

Rượu vang Trung Quốc vươn tầm quốc tế, mở rộng giá trị nông nghiệp từ vùng núi cao

Sự kiện Chinese Wine Awards đang góp phần đưa các thương hiệu rượu vang Trung Quốc như Ao Yun ra thị trường toàn cầu, phản ánh bước chuyển quan trọng của ngành trồng nho và chế biến rượu vang. Với mô hình canh tác thủ công và mở rộng vùng nguyên liệu, rượu vang đang trở thành sản phẩm nông nghiệp giá trị cao, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.
Sầu riêng Malaysia lao đao vì thu hoạch sớm và chi phí logistics tăng vọt

Sầu riêng Malaysia lao đao vì thu hoạch sớm và chi phí logistics tăng vọt

Ngành sầu riêng Malaysia đang đối mặt áp lực kép khi sản lượng tăng sớm hơn dự kiến trong khi chi phí vận chuyển leo thang do biến động địa chính trị. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cho biết chi phí logistics có thể chiếm tới 50% doanh thu, buộc nông dân phải cắt giảm chi phí để duy trì sản xuất.
Quế Trà Leng: Từ sản vật đại ngàn đến không gian xúc tiến thương mại

Quế Trà Leng: Từ sản vật đại ngàn đến không gian xúc tiến thương mại

Made in Da Nang Expo 2026 – sự kiện không chỉ mang ý nghĩa quảng bá, mà còn là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và thị trường, giữa địa phương và hệ thống phân phối hiện đại. Trong không gian hội chợ, sự hiện diện của Trà Leng cho thấy rõ hiệu quả bước đầu của các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vùng miền.
Mở rộng diện tích cây trồng liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm vụ xuân

Mở rộng diện tích cây trồng liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm vụ xuân

Vụ xuân được xác định là vụ sản xuất quan trọng trong năm. Vì vậy, bên cạnh các giải pháp nâng cao chất lượng cây trồng, các địa phương đã chú trọng mở rộng diện tích cây trồng liên kết sản xuất gắn với bao tiêu sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân cũng như đảm bảo tính bền vững cho sản xuất nông nghiệp trong điều kiện thời tiết biến động
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính