![]() |
| Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên môi trường số thông qua mã định danh, giúp ghi nhận và truy vết thông tin trong chuỗi cung ứng. Ảnh: Minh họa |
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 372/2026/NĐ-CP ngày 29/9/2026 quy định về hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Nghị định gồm 8 chương, 38 điều, quy định về Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số thông qua Nền tảng quốc gia; việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác Nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa; quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Phân định theo mức độ rủi ro
Theo Nghị định, hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thông qua Nền tảng quốc gia được thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa, căn cứ vào mức độ rủi ro.
Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc. Danh mục, lộ trình áp dụng, phương thức thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa, sự kiện trọng yếu và yêu cầu dữ liệu chuyên ngành do bộ quản lý ngành, lĩnh vực xác định, quyết định theo thẩm quyền.
Nền tảng quốc gia thực hiện chức năng kỹ thuật về định danh, xác thực, đối chiếu, lưu vết, kết nối và chia sẻ dữ liệu trên cơ sở danh mục, lộ trình và yêu cầu chuyên ngành đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và thấp, việc định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được khuyến khích thực hiện tự nguyện.
Đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu, việc áp dụng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân chủ động áp dụng để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, thị trường xuất khẩu và hoạt động thương mại quốc tế.
Truy xuất nguồn gốc qua mã UID
Nghị định quy định hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên môi trường số thông qua mã UID trên Nền tảng quốc gia. Nội dung, yêu cầu nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc không được quy định tại Nghị định này thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Việc truy xuất nguồn gốc phải được ghi nhận thông qua việc khởi tạo các chứng chỉ số qua mã UID nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng xác minh và truy vết độc lập. Việc ghi nhận này được thực hiện đối với các sự kiện trọng yếu trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông, tiêu dùng, bao gồm việc xuất hóa đơn và ghi nhận thời điểm cơ quan hải quan quyết định thông quan đối với hàng hóa theo quy định.
Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đối với sự kiện trọng yếu trong chuỗi cung ứng có trách nhiệm bảo đảm việc khởi tạo chứng chỉ số tương ứng với công đoạn đó thông qua mã UID của sản phẩm, hàng hóa, trừ trường hợp dữ liệu xác nhận kết thúc công đoạn đã được đồng bộ về Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.
Trường hợp việc khởi tạo chứng chỉ số được thực hiện bởi bên cung cấp dịch vụ phải có thỏa thuận xác định rõ chủ thể thực hiện, phạm vi thực hiện, trách nhiệm bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu và trách nhiệm pháp lý của các bên theo quy định pháp luật.
Số hóa chứng nhận sản phẩm, hàng hóa
Các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao trong quá trình truy xuất nguồn gốc được số hóa, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia theo lộ trình, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu quản lý do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Các giấy tờ, chứng nhận gắn với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và thấp được khuyến khích số hóa, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước chuyên ngành.
Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm tổ chức khởi tạo hoặc chỉ đạo, yêu cầu và bảo đảm các tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cấp các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa thực hiện việc khởi tạo các chứng chỉ số tương ứng và đảm bảo kết nối, liên thông dữ liệu với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Các chứng chỉ số về chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa đã được khởi tạo trên Nền tảng quốc gia có giá trị sử dụng như bản chính.
Nghị định số 372/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.