![]() |
| Hội thảo “Định hướng phát triển ngành phân bón quốc gia trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu” thu hút sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp trong lĩnh vực phân bón. |
Ngày 16/6, tại Hà Nội, Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổ chức Hội thảo “Định hướng phát triển ngành phân bón quốc gia trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu”. Hội thảo có sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón và đại diện nông dân.
Hội thảo diễn ra trong thời điểm kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, thay đổi chính sách thương mại, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, chi phí logistics và các tiêu chuẩn môi trường mới đang tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng nguyên liệu, sản xuất, lưu thông và sử dụng phân bón.
Từ góc nhìn đó, các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng phân bón không còn chỉ là một loại vật tư đầu vào của sản xuất nông nghiệp, mà ngày càng gắn chặt với an ninh lương thực, an ninh kinh tế, năng lực cạnh tranh của nông sản và mục tiêu tăng trưởng xanh của đất nước.
![]() |
| TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam nhấn mạnh, ngành phân bón Việt Nam cần chuyển từ tư duy tăng sản lượng sang nâng cao hiệu quả sử dụng, cân đối giữa phân bón vô cơ, hữu cơ và sinh học. |
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam nhấn mạnh, hội thảo không đặt vấn đề phát triển ngành phân bón theo cách truyền thống là tăng thêm bao nhiêu nhà máy hay mở rộng sản lượng bằng mọi giá. Theo ông Hà, ngành phân bón Việt Nam hiện đã cơ bản bảo đảm nguồn cung cho sản xuất nông nghiệp, với sản lượng sản xuất khoảng 6,5 - 7 triệu tấn/năm và nhập khẩu khoảng 4 - 4,5 triệu tấn/năm.
Vấn đề lớn hơn trong giai đoạn mới là chuyển sang phát triển các dòng phân bón hiệu quả sử dụng cao, vừa bảo đảm năng suất, chất lượng cây trồng, vừa cải thiện sức khỏe đất, giảm phát thải khí nhà kính và cân đối hợp lý giữa phân bón vô cơ, phân bón hữu cơ, phân bón sinh học.
TS. Phùng Hà cho biết, những biến động lớn trên thế giới thời gian qua cho thấy phân bón ngày càng trở thành yếu tố nhạy cảm đối với an ninh lương thực; từ an ninh lương thực có thể tác động đến an ninh quốc gia. Vì vậy, Hiệp hội Phân bón Việt Nam có trách nhiệm tập hợp ý kiến từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh, phản ánh khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho ngành phát triển.
![]() |
| TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng, thách thức lớn nhất của ngành phân bón hiện nay không chỉ là giá cao hay thấp, mà là tính bất định ngày càng gia tăng của thị trường. |
Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng, ngành phân bón Việt Nam đã có bước phát triển đáng ghi nhận trong nhiều năm qua. Năng lực sản xuất được nâng lên, nhiều công nghệ hiện đại được đầu tư, các thương hiệu phân bón trong nước không chỉ đáp ứng thị trường nội địa mà còn từng bước tham gia xuất khẩu.
Tuy nhiên, ngành cũng đang đối diện nhiều khó khăn mang tính cấu trúc như giá nguyên liệu và năng lượng biến động mạnh, rủi ro chuỗi cung ứng và logistics, áp lực cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu, yêu cầu chuyển đổi xanh và giảm phát thải. Đặc biệt, theo TS. Nguyễn Trí Ngọc, thách thức lớn nhất hiện nay “không phải là giá cao hay giá thấp, mà là tính bất định ngày càng cao”.
Ông Ngọc phân tích, tính bất định khiến doanh nghiệp khó dự báo thị trường, khó lập kế hoạch đầu tư dài hạn và khó xây dựng chiến lược phát triển. Đây là thách thức hiện hữu, đòi hỏi ngành phân bón phải có cách tiếp cận mới, chủ động hơn trong nguồn nguyên liệu, công nghệ, thị trường và chính sách.
Từ góc độ Hiệp hội Phân bón Việt Nam, TS. Nguyễn Trí Ngọc đề xuất ngành cần tập trung vào 5 vấn đề lớn: nâng cao chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào; đầu tư công nghệ và chuyển đổi xanh; phát triển bền vững gắn với năng lực cạnh tranh; chống hàng giả, hàng kém chất lượng; đồng hành chặt chẽ hơn với ngành nông nghiệp.
Cùng với đó, Hiệp hội kiến nghị cần xây dựng chiến lược phát triển ngành phân bón; hoàn thiện cơ chế, chính sách; thúc đẩy đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
![]() |
| Ông Vũ Thắng, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý phân bón, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thông tin về thực trạng sản xuất, lưu hành, sử dụng phân bón và các định hướng chính sách liên quan đến phân bón hữu cơ, phát thải thấp. |
Trình bày chuyên đề về quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón, ông Vũ Thắng, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý phân bón, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hệ thống văn bản pháp luật về phân bón thời gian qua có nhiều điều chỉnh theo hướng phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Theo đó, thủ tục cấp quyết định công nhận phân bón lưu hành được rút ngắn thời gian từ 90 ngày xuống còn 60 ngày; thời hạn quyết định công nhận lưu hành được định hướng kéo dài từ 5 năm lên 10 năm. Nhiều thủ tục như cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, giấy phép nhập khẩu, công nhận tổ chức khảo nghiệm, cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do đã được phân cấp về địa phương. Từ tháng 1/2026, thủ tục cấp quyết định công nhận phân bón lưu hành thực hiện trực tuyến trên phần mềm dịch vụ công.
Tính đến ngày 30/6/2025, cả nước có 805 nhà máy sản xuất phân bón, với tổng công suất khoảng 21,2 triệu tấn/năm. Trong đó, 242 nhà máy chỉ sản xuất phân bón vô cơ, 136 nhà máy chỉ sản xuất phân bón hữu cơ, sinh học và 427 nhà máy sản xuất cả phân bón vô cơ, hữu cơ hoặc sinh học.
Về sản phẩm lưu hành, cả nước có khoảng 29.000 sản phẩm phân bón đăng ký lưu hành. Đáng chú ý, số sản phẩm phân bón hữu cơ tăng nhanh trong những năm gần đây, từ khoảng 3.000 sản phẩm năm 2019 lên hơn 8.000 sản phẩm năm 2025. Đây là dấu hiệu cho thấy các chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ đã tác động rõ đến thị trường.
Ông Vũ Thắng cũng cho biết, giai đoạn 2021 - 2025, lượng phân bón công nghiệp sử dụng bình quân khoảng 10,27 triệu tấn/năm, trong đó phân bón vô cơ khoảng 7,6 triệu tấn, phân bón hữu cơ và sinh học khoảng 2,65 triệu tấn. Nếu quy đổi về dinh dưỡng NPK, tổng nhu cầu khoảng 3,3 triệu tấn/năm. Tỷ trọng nguồn dinh dưỡng từ phân bón hữu cơ đang có xu hướng tăng, phù hợp với định hướng nâng cao sức khỏe đất, phát triển nông nghiệp xanh và giảm phát thải trong trồng trọt.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh, đại diện Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường phân tích thực trạng nhập khẩu phân bón còn phụ thuộc vào một số nguồn cung lớn, đồng thời đề xuất giải pháp đa dạng hóa thị trường và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. |
Ở góc độ nghiên cứu chính sách, bà Nguyễn Thị Hồng Thanh, đại diện Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam là thị trường sử dụng phân bón lớn, với nhu cầu khoảng gần 11 triệu tấn/năm, trong khi sản xuất trong nước khoảng 8 triệu tấn. Phần thiếu hụt vẫn phải bù đắp bằng nhập khẩu.
Theo bà Thanh, năm 2025, giá trị nhập khẩu phân bón của Việt Nam cao gấp khoảng 3,7 lần giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, tín hiệu tích cực là trong giai đoạn 2019 - 2025, xuất khẩu phân bón tăng nhanh hơn nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ khoảng 186 triệu USD năm 2019 lên khoảng 525 triệu USD năm 2025, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 18,8%/năm.
Campuchia hiện là thị trường xuất khẩu phân bón lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, ở chiều nhập khẩu, Trung Quốc là nguồn cung lớn nhất, chiếm trên 50% tổng giá trị nhập khẩu phân bón vào Việt Nam; nhóm 6 quốc gia cung ứng lớn nhất chiếm gần 85% tổng lượng nhập khẩu.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Thanh, sự phụ thuộc vào một số nguồn cung lớn khiến thị trường trong nước dễ chịu tác động khi có biến động về địa chính trị, thương mại, giá nguyên liệu, vận tải hoặc chính sách xuất khẩu của các nước. Bên cạnh đó, chi phí logistics, kho bãi, phân phối còn cao; hệ thống trung chuyển chưa đồng đều giữa các vùng; nông dân ở nhiều nơi vẫn phụ thuộc vào tư vấn của đại lý thay vì nguồn thông tin chính thức.
Bà Thanh cũng nhấn mạnh, tư duy sử dụng phân bón trong nông nghiệp đang chuyển từ “bón càng nhiều càng tốt” sang bón theo nhu cầu cây trồng, đúng thời điểm, đúng liều lượng, gắn với sản xuất xanh, sản xuất hữu cơ và giảm phát thải. Vì vậy, cần phát triển bản đồ dinh dưỡng đất, dịch vụ xét nghiệm đất, khuyến nông số, đồng thời siết chặt quản lý chất lượng theo rủi ro, công khai thông tin sản phẩm vi phạm và xây dựng dữ liệu quốc gia về phân bón.
![]() |
| Ông Nguyễn Hữu Tú, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, Tổng Giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam nhấn mạnh định hướng chủ động nguồn nguyên liệu, xanh hóa sản xuất, phát triển sản phẩm chuyên dùng và đồng hành với nông dân. |
Từ góc độ doanh nghiệp nhà nước nòng cốt, ông Nguyễn Hữu Tú, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, Tổng Giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) cho biết, Vinachem hiện có 11 đơn vị phân bón, với nhiều thương hiệu gắn bó lâu năm với nông dân như Supe Lâm Thao, Đạm Hà Bắc, Phân bón Bình Điền, Văn Điển… Mỗi năm, Tập đoàn cung cấp khoảng 4 triệu tấn phân bón các loại ra thị trường.
Theo Tổng Giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, trong bối cảnh biến động địa chính trị làm chi phí logistics tăng cao và nguồn nguyên liệu khan hiếm, Vinachem tập trung vào bốn định hướng lớn: chủ động nguồn nguyên liệu, xanh hóa quy trình sản xuất, phát triển sản phẩm mới và đồng hành với nông dân.
![]() |
| TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam cùng nhà báo Đỗ Ngọc Thi, Tổng Biên tập Tạp chí Hữu cơ Việt Nam tham quan gian hàng trưng bày của Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao tại hội thảo. |
Về nguyên liệu, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam chú trọng khai thác tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên trong nước như quặng apatit, đồng thời tìm kiếm nguồn nguyên liệu quốc tế, nghiên cứu các nguồn nguyên liệu xanh như amoniac xanh. Về sản xuất, Vinachem đẩy mạnh hiện đại hóa dây chuyền, tự động hóa, chuyển đổi số, giảm tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng để kiểm soát giá thành.
Đối với sản phẩm, Vinachem định hướng phát triển phân bón chuyên dùng, chuyên vùng, theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, gắn với truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xuất khẩu nông sản và giảm phát thải. Tập đoàn cũng triển khai các chương trình đồng hành với nông dân thông qua mô hình canh tác, hội nghị đầu bờ, hướng dẫn bón đúng, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Hiền, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau cho rằng, dữ liệu, chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn thị trường quốc tế đang trở thành lợi thế cạnh tranh mới của doanh nghiệp phân bón. |
Ở góc nhìn của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), bà Nguyễn Thị Hiền, Phó Tổng Giám đốc PVCFC cho rằng, ngành phân bón đang bước vào một giai đoạn mà địa chính trị, an ninh năng lượng, dữ liệu và xanh hóa trở thành các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh.
Theo bà Hiền, trước đây ngành phân bón toàn cầu chủ yếu dựa trên tối ưu chi phí, lợi thế năng lượng và toàn cầu hóa. Nhưng hiện nay, các biến động như Covid-19, xung đột Nga - Ukraine, khủng hoảng logistics Biển Đỏ, rủi ro Trung Đông cho thấy địa chính trị đã trở thành biến số kinh tế trực tiếp, tác động tới năng lượng, nguyên liệu, logistics và thương mại phân bón.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, bà Hiền cho biết sản phẩm của PVCFC hiện diện tại 22 quốc gia, trong đó có các thị trường xa như Chile, Uruguay, Brazil; các thị trường khó tính như Úc, New Zealand và cả Mỹ. Năm 2025, PVCFC xuất khẩu khoảng 490.000 tấn phân bón, năm 2026 có khả năng vượt 500.000 tấn.
![]() |
| Nhà báo Đỗ Ngọc Thi, Tổng Biên tập Tạp chí Hữu cơ Việt Nam tham quan gian hàng trưng bày của Công ty Cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau bên lề hội thảo. |
Phó Tổng Giám đốc PVCFC nhấn mạnh, dữ liệu không còn chỉ là công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp có khả năng khai thác dữ liệu, dự báo thị trường, quản trị tồn kho, logistics, bán hàng và hỗ trợ nông dân ra quyết định sẽ có lợi thế ngày càng lớn.
Đặc biệt, chuyển đổi xanh không chỉ là trách nhiệm môi trường, mà còn là điều kiện để tiếp cận các thị trường khó tính. Từ kinh nghiệm xuất khẩu sang Úc, bà Hiền chia sẻ doanh nghiệp phải chứng minh cả quá trình sản xuất, vận chuyển, sử dụng bao bì, điều kiện lao động và tác động môi trường. Khi đáp ứng được các tiêu chuẩn này, sản phẩm có thể bán cao hơn khoảng 30 - 50 USD/tấn so với các thị trường thông thường.
Theo Tổng Công ty Cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau, tầm nhìn đến năm 2035 là xây dựng ngành phân bón Việt Nam “tự chủ hơn, xanh hơn, thông minh hơn, liên kết hơn và hội nhập hơn”, trong đó năng lực chống chịu chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh, dữ liệu, liên kết với chuỗi giá trị nông nghiệp và hội nhập quốc tế là những trụ cột quan trọng.
![]() |
| Ông Trần Vĩnh Lộc, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí đề xuất xây dựng Đề án phát triển ngành phân bón Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng hiện đại, xanh và kinh tế tuần hoàn. |
Cùng bàn về đổi mới công nghệ và xanh hóa sản xuất, ông Trần Vĩnh Lộc, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP, PVFCCo/Phú Mỹ cho rằng, giai đoạn 2026 - 2030 là thời điểm then chốt để doanh nghiệp phân bón bứt phá thông qua phát triển sản phẩm thế hệ mới, xanh hóa chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo ông Lộc, nhu cầu phân bón trong nước giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến duy trì khoảng 10,6 - 10,8 triệu tấn/năm, tạo nền tảng cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao. Ngành nông nghiệp đang chuyển từ mục tiêu sản lượng sang giá trị gia tăng, kéo theo nhu cầu về phân bón chuyên dùng, NPK chất lượng cao, sản phẩm bổ sung trung lượng, vi lượng, phân bón hữu cơ, sinh học và phân bón có hiệu suất sử dụng cao.
PVFCCo định hướng chuyển từ doanh nghiệp sản xuất phân bón đơn sản phẩm sang doanh nghiệp cung cấp hệ sinh thái dinh dưỡng cây trồng toàn diện. Trọng tâm là duy trì lợi thế Đạm Phú Mỹ, phát triển NPK Phú Mỹ thế hệ mới, Kali Phú Mỹ, nhóm hữu cơ - sinh học, hóa chất và các sản phẩm dinh dưỡng thế hệ mới.
Ông Trần Vĩnh Lộc kiến nghị, cần xây dựng Đề án phát triển ngành phân bón Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm định hướng ngành theo hướng hiện đại, xanh, kinh tế tuần hoàn, bảo đảm an ninh phân bón quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.
![]() |
| PGS.TS Phạm Thị Vượng, Phó Chủ tịch Hội Nông nghiệp Tuần hoàn Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ sinh học Quế Lâm trình bày tham luận về phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh. |
Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là phát triển phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh gắn với nông nghiệp tuần hoàn. Trình bày tham luận, PGS.TS Phạm Thị Vượng, Phó Chủ tịch Hội Nông nghiệp Tuần hoàn Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ sinh học Quế Lâm cho biết, Tập đoàn Quế Lâm đã có khoảng 25 năm theo đuổi định hướng phát triển phân bón hữu cơ, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp tuần hoàn.
Theo bà Vượng, với phân bón hữu cơ và hữu cơ vi sinh, nguồn nguyên liệu đầu vào là yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm. Vì vậy, phát triển phân bón hữu cơ không thể tách rời việc xây dựng các chuỗi thu gom, xử lý phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi và rác hữu cơ theo hướng tuần hoàn.
![]() |
| TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam cùng nhà báo Đỗ Ngọc Thi, Tổng Biên tập Tạp chí Hữu cơ Việt Nam tham quan gian hàng, sản phẩm phân bón hữu cơ trưng bày của Công ty CP Phân Lân Ninh Bình |
Quế Lâm hiện có 8 nhà máy phân bổ ở nhiều vùng trên cả nước. Việc phân bổ này giúp doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thị trường, đồng thời thuận lợi trong thu gom phụ phẩm hữu cơ tại địa phương. Doanh nghiệp cũng phát triển các chuỗi chăn nuôi, trồng trọt hữu cơ, mô hình nuôi ruồi lính đen, sử dụng công nghệ vi sinh để xử lý nguyên liệu, giảm mùi hôi, rút ngắn thời gian ủ và nâng chất lượng phân bón hữu cơ.
Theo PGS.TS Phạm Thị Vượng, khó khăn lớn nhất của phân bón hữu cơ không chỉ nằm ở sản xuất hay phân phối, mà còn ở việc thay đổi thói quen sử dụng của nông dân. Người dân lâu nay quen với phân bón hóa học do hiệu quả nhìn thấy nhanh. Do đó, cần có mô hình thực tế, đào tạo tại cơ sở và phát triển theo chuỗi để nông dân thấy rõ hiệu quả của phân bón hữu cơ trên đồng ruộng.
Bà Vượng kiến nghị, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương cần chung tay thúc đẩy thu gom phụ phẩm, rác thải hữu cơ, phát triển phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh, hữu cơ sinh học và mở rộng ứng dụng trong sản xuất. Theo bà, đây là hướng đi để giảm phụ thuộc nhập khẩu, bảo vệ môi trường, cải tạo đất và xây dựng nền nông nghiệp có trách nhiệm.
![]() |
| Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng, ngành phân bón Việt Nam cần có tư duy mới, chủ động nguyên liệu chiến lược và phát triển các sản phẩm thông minh, hiệu quả, bảo vệ đất. |
Phát biểu tại hội thảo, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường đánh giá, ngành phân bón Việt Nam đã có bước phát triển nhanh, vững chắc và từng bước đáp ứng nhu cầu trong nước. Từ chỗ gần như phụ thuộc vào nhập khẩu, đến nay Việt Nam đã hình thành một hệ sinh thái sản xuất phân bón với đủ các nhóm sản phẩm, từ vô cơ, hữu cơ đến vi sinh, đồng thời bắt đầu có những sản phẩm xuất khẩu có vị thế.
Theo ông Nguyễn Xuân Cường, nếu nông sản Việt Nam đã có thể vươn lên thành nhóm xuất khẩu mạnh trên thế giới, thì ngành phân bón, với vai trò phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, cũng cần đặt mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu.
Ông Cường nhấn mạnh, muốn giảm rủi ro trước biến động địa chính trị, ngành phân bón phải đặt vấn đề an ninh ngành hàng lên hàng đầu, trong đó trọng tâm là chủ động các nguồn nguyên liệu chiến lược như kali, lân và đạm. Với kali, cần tăng tính chủ động nguồn cung; với lân, cần khai thác tiết kiệm, hiệu quả nguồn apatit trong nước; với đạm, ngoài nguồn từ khí và than, cần mở rộng tư duy sang đạm sinh học, tận dụng nguồn sinh khối, phụ phẩm nông nghiệp và hệ vi sinh.
Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng gợi mở hướng tận dụng lợi thế đa dạng sinh học, đặc biệt là nhóm vi sinh vật có ích, để phục vụ hệ sinh thái phân bón mới, giảm dần phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu truyền thống và tạo ra giá trị khác biệt cho phân bón Việt Nam.
Theo ông, sản phẩm phân bón trong giai đoạn mới phải hướng tới sự tiện ích, hiệu quả, giảm giá thành, bảo vệ môi trường và bảo vệ đất. Phân bón cần được thiết kế để cây trồng hấp thụ tốt hơn, hạn chế dư thừa, thất thoát và lãng phí dinh dưỡng.
Từ các ý kiến tại hội thảo, ông Nguyễn Xuân Cường đề nghị Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổng hợp, biên tập thành báo cáo định hướng chiến lược, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp để mở ra một giai đoạn phát triển mới cho ngành phân bón Việt Nam.
![]() |
| Ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam nhấn mạnh, mục tiêu cuối cùng của phát triển ngành phân bón là giúp nông dân giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và thu nhập. |
Phát biểu bế mạc, ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho rằng, hội thảo đã cung cấp cái nhìn toàn diện về bối cảnh phát triển của ngành phân bón Việt Nam, trong đó các biến động địa chính trị, an ninh năng lượng, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và tiêu chuẩn môi trường đang đặt ra những yêu cầu mới đối với ngành.
Theo ông Nguyễn Xuân Định, ngành phân bón không chỉ là ngành sản xuất vật tư đầu vào cho nông nghiệp, mà ngày càng gắn chặt với an ninh lương thực, an ninh kinh tế, tăng trưởng xanh và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Đối với người nông dân, mục tiêu cuối cùng của mọi chiến lược phát triển ngành phân bón là giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp, tăng năng suất, chất lượng nông sản, nâng cao thu nhập và góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, bền vững.
![]() |
| Các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp thống nhất cần phát triển phân bón theo hướng hiệu quả cao, thân thiện môi trường và gắn với sức khỏe đất. |
Từ những trao đổi tại hội thảo, có thể thấy định hướng phát triển ngành phân bón Việt Nam trong giai đoạn tới không chỉ là câu chuyện sản lượng hay thị trường, mà là bài toán tổng hợp về an ninh nguồn cung, tự chủ nguyên liệu, công nghệ, chất lượng, dữ liệu, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và liên kết sâu hơn với người nông dân. Đây cũng là nền tảng để ngành phân bón Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng hành hiệu quả hơn với nền nông nghiệp xanh, hiện đại và hội nhập.
Nông nghiệp hiện đại đang đối diện nhiều thách thức về môi trường, biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, việc ... |
Vừa qua, Công ty Cổ phần Phân bón Miền Nam và Công ty Cổ phần Nông trang Eden (Eden Farm) đã chính thức thực hiện ... |
Sáng 10/6, tại xã Tân An, thành phố Hải Phòng, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối ... |
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khép lại với nhiều dấu ... |
Các nhà khoa học vừa xác định được một cơ chế di truyền mới giúp cây ngô hấp thụ và sử dụng nitơ hiệu quả ... |