![]() |
| Mô hình chăn nuôi lợn, gà gắn với kinh tế tuần hoàn của gia đình bà Hoa Thị Thuỷ, xóm Đà Lạn, xã Hoà An mang lại hiệu quả kinh tế cao. |
Từ phong trào thi đua đến những mô hình hiệu quả
Phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo sinh kế bền vững cho người dân và xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của xã Hoà An. Từ yêu cầu đó, phong trào đã trở thành động lực để nông dân mạnh dạn đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng an toàn, bền vững.
Theo Hội Nông dân xã Hoà An, năm 2025, toàn xã có 1.887 hộ hội viên đăng ký danh hiệu hộ nông dân SXKD giỏi các cấp; qua bình xét có 943 hộ đạt danh hiệu, trong đó 25 hộ đạt danh hiệu cấp tỉnh và 6 hộ đạt danh hiệu cấp Trung ương. Năm 2026, xã có 1.096 hộ đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu hộ nông dân SXKD giỏi các cấp, xã phấn đấu có 840 hộ đạt danh hiệu SXKD giỏi các cấp, trong đó 15 hộ đạt danh hiệu cấp tỉnh và 3 hộ đạt danh hiệu cấp Trung ương,
Bà Nông Thị Cúc, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Hoà An khẳng định, phong trào không chỉ khuyến khích nông dân đầu tư, mở rộng sản xuất mà còn tạo môi trường để các hộ phát huy thế mạnh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng mô hình gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, từ những hộ SXKD giỏi, nhiều kinh nghiệm và cách làm hiệu quả được chia sẻ, nhân rộng, qua đó hỗ trợ các hộ khó khăn từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống.
Từ phong trào, xã đã ngày càng xuất hiện nhiều mô hình SXKD hiệu quả, tiêu biểu như mô hình chăn nuôi lợn, gà gắn với kinh tế tuần hoàn của gia đình bà Hoa Thị Thuỷ, xóm Đà Lạn.
Trước đây, gia đình bà Thuỷ duy trì nuôi 40 – 50 con lợn thịt thương phẩm theo phương thức chăn nuôi truyền thống. Nhận thấy chăn nuôi có tiềm năng phát triển, gia đình từng bước đầu tư, mở rộng quy mô. Đến năm 2024, đàn lợn được nâng lên 100 – 120 con, sản lượng xuất bán đạt khoảng 15 tấn lợn hơi mỗi năm.
Nhằm chủ động nguồn thức ăn, giảm chi phí đầu vào, gia đình dành 9.000 m2 đất trồng ngô lai, mỗi năm thu khoảng 9 tấn để phục vụ chăn nuôi lợn, gà và nấu rượu. Trung bình mỗi ngày, gia đình nấu 100 lít rượu cung cấp cho thị trường. Phần bã rượu sau trưng cất được phối trộn với ngô, thân cây chuối và cám gạo thu được từ hoạt động dịch vụ xay xát thóc của gia đình, tạo nguồn thức ăn cho đàn vật nuôi.
Tận dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có, gia đình từng bước hình thành mô hình kinh tế tuần hoàn khép kín. Kết hợp áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học đã giúp giảm khoảng 50% chi phí sản xuất, trong khi vẫn duy trì ổn định quy mô đàn lợn từ 100 – 120 con. Hiện mô hình mang lại doanh thu 800 triệu đồng mỗi năm; sau khi trừ các khoản chi phí, thu nhập còn 450 triệu đồng.
Trên cương vị Chi hội trưởng Chi hội Nông dân xóm, bà Thuỷ thường xuyên tuyên truyền, vận động hội viên hưởng ứng các phong trào thi đua do Hội Nông dân phát động. Từ thực tiễn chăn nuôi, bà chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn kỹ thuật và vận động hội viên áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, góp phần giúp nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất. Năm 2025, gia đình bà Thuỷ được công nhận danh hiệu “Hộ nông dân SXKD giỏi” cấp tỉnh.
Tại xóm Đại Tiến 1, gia đình ông Hoàng Văn Bàu cũng xây dựng mô hình kinh tế tổng hợp, kết hợp chăn nuôi lợn, gà, nuôi cá, ong lấy mật và trồng cây ăn quả, mang lại nguồn thu ổn định.
Hiện gia đình duy trì đàn lợn thịt 40 con, sản lượng xuất bán hơn 4 tấn lợn hơi mỗi năm, doanh thu khoảng 280 triệu đồng. Tận dụng lợi thế diện tích rừng tự nhiên, ông Bàu nuôi 30 thùng ong lấy mật, sản lượng đạt hơn 300 lít/năm, đem lại doanh thu trên 60 triệu đồng.
Để đa dạng hoá sản phẩm, tăng nguồn thu, gia đình tận dụng nguồn nước sạch tự nhiên từ khe núi, đầu tư hơn 20 triệu đồng cải tạo, đào 2 ao với tổng diện tích 1.000 m2 và xây dựng hệ thống ống dẫn nước phục vụ nuôi cá. Các loại cá rô phi, trắm cỏ, trê phi, cá chép được thả nuôi, mỗi năm cho sản lượng khoảng 6 tạ cá thương phẩm. Với giá bán bình quân 60.000 đồng/kg, nguồn thu từ nuôi cá đạt 36 triệu đồng/năm.
Bên cạnh đó, gia đình ông Bàu còn nuôi 150 con gà thả đồi, mang lại doanh thu khoảng 33 triệu đồng mỗi năm. Trên diện tích đất đồi quanh nhà, gia đình trồng thêm các loại cây như dẻ, hồng không hạt, nhãn, cho nguồn thu hơn 10 triệu đồng/năm. Tổng hợp các nguồn thu, mô hình kinh tế của gia đình đạt gần 420 triệu đồng mỗi năm. Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường trong tỉnh và qua các thương lái.
![]() |
| Mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình ông Hoàng Văn Bàu, xóm Đại Tiến 1, xã Hoà An mang lại doanh thu gần 420 triệu đồng/năm. Ảnh Quốc Sơn |
Nâng cao chất lượng phong trào bằng các giải pháp thiết thực
Theo bà Nông Thị Cúc, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Hoà An, triển khai phong trào, xã Hoà An gặp không ít khó khăn. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch bệnh, trong khi giá cả và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Khi sản lượng tăng, nông dân có thể gặp khó trong khâu tiêu thụ. Phần lớn hộ sản xuất còn quy mô nhỏ, liên kết giữa các hộ chưa thật chặt chẽ; một bộ phận nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, chưa mạnh dạn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm. Khả năng tiếp cận công nghệ số của một số hội viên còn hạn chế.
Trước thực tế đó, ngay từ đầu năm, Hội Nông dân xã Hoà An xây dựng kế hoạch triển khai phong trào, giao chỉ tiêu đăng ký đến từng chi hội; đồng thời rà soát nhu cầu, điều kiện sản xuất của hội viên để định hướng mô hình phù hợp. Công tác tuyên truyền được duy trì thường xuyên, linh hoạt thông qua sinh hoạt chi hội, hoạt động tại cơ sở, các nhóm Zalo và fanpage của Hội. Nội dung tuyên truyền tập trung vào chủ trương phát triển nông nghiệp, định hướng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậy nuôi có giá kinh tế, phù hợp với điều kiện từng hộ và từng khu vực. Đồng thời gắn sản xuất với xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, Hội đã tổ chức hơn 200 cuộc tuyên truyền tại các chi hội, thu hút trên 10.000 lượt cán bộ, hội viên tham gia.
Một trong những trọng tâm của phong trào là vận động hội viên thay đổi tư duy sản xuất, chủ động lựa chọn cây trồng, vật nuôi có thế mạnh như cây ăn quả, cây thuốc lá, trâu, bò sinh sản, lợn bản địa và các mô hình phù hợp điều kiện từng địa bàn. Từ sản xuất nhỏ lẻ, nhiều hộ từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá theo nhu cầu thị trường, kết hợp áp dụng quy trình sản xuất an toàn và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm.
Các mô hình hiệu quả được duy trì, nhân rộng, trở thành địa chỉ để hội viên tham quan, học hỏi kinh nghiệm. Tiêu biểu như mô hình trồng cây ăn quả tại xóm Thanh Hùng; trồng thuốc lá tại xóm Bằng Hà; chăn nuôi trâu, bò sinh sản tại Dẻ Đoóng; chăn nuôi lợn bản địa tại xóm 6 Bế Triều. Từ thực tiễn sản xuất, nông dân có thêm cơ sở để lựa chọn hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện gia đình và lợi thế địa phương,
Cùng với chuyển đổi cơ cấu sản xuất, Hội phối hợp tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, trang bị kiến thức và kỹ năng sản xuất cho hội viên. Nội dung tập trung vào chăn nuôi an toàn sinh học; sử dụng phân bón hợp lý; kỹ thuật chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và ứng dụng công nghệ số trong SXKD.
Các chi hội nghề nghiệp trồng cây ăn quả, trồng cây thuốc lá, tổ hợp tác chăn nuôi - thú y và tổ hội nông dân nghề nghiệp chăn nuôi an toàn sinh học tiếp tục được duy trì, góp phần thúc đẩy liên kết trong sản xuất. Cùng với đó, Hội chú trọng hỗ trợ hội viên tiếp cận nguồn vốn, tạo thêm nguồn lực đầu tư phát triển SXKD, tăng thu nhập.
Năm 2025, Hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện cho 530 hộ vay vốn với tổng dư nợ 47,387 tỷ đồng; phối hợp cho 85 hộ vay 2,3 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân và hỗ trợ 7 người vay không tính lãi 70 triệu đồng thuộc Dự án chăn nuôi bò. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Hội tiếp tục phối hợp duy trì hoạt động nhận uỷ thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, với 490 hộ vay, tổng dư nợ trên 47 tỷ đồng.
Nguồn vốn được ưu tiên cho các hộ có phương án sản xuất khả thi, đầu tư phát triển trồng trọt, chăn nuôi, các hộ mới khởi nghiệp và mô hình có khả năng tạo việc làm. Đây là một trong những nguồn lực giúp nông dân mở rộng sản xuất, hình thành mô hình kinh tế hiệu quả.
Bên cạnh vốn và kỹ thuật, xúc tiến thương mại được Hội xác định là khâu quan trọng để năng cao giá trị sản phẩm. Thông qua các nền tảng số, Hội đẩy mạnh quảng bá sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm đặc trưng và những mô hình kinh tế hiệu quả. Mô hình “Tổ nông dân số”, “Chợ nông sản số Hoà An” được duy trì, phát huy vai trò trong quảng bá, bán hàng trực tuyến, cập nhật thông tin giá cả và kết nối cung - cầu.
Theo bà Đàm Thị Minh, Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, Chủ tịch Hội Nông dân xã Hoà An, phong trào đã khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm của hội viên, nông dân. Những hộ SXKD giỏi không chỉ phát triển kinh tế gia đình mà còn chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ các hộ khác cùng vươn lên.
“Thời gian tới, Hội tiếp tục nhân rộng các mô hình SXKD hiệu quả gắn với chuyển đổi số; đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ nguồn lực cho hội viên; chú trọng xây dựng thương hiệu, quảng bá, kết nối tiêu thụ sản phẩm và từng bước hình thành các chuỗi sản xuất phù hợp với lợi thế địa phương”, bà Minh cho biết.
Từ những mô hình sản xuất hiệu quả và sự đồng hành của tổ chức Hội, phong trào nông dân thi đua SXKD giỏi ở Hoà An đang tạo động lực để hội viên phát huy tính năng động, sáng tạo, đoàn kết hỗ trợ phát triển kinh tế. Qua đó, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và tạo nền tảng cho xây dựng nông thôn mới bền vững.