![]() |
| Mô hình trồng rau màu kết hợp chăn nuôi lợn của gia đình anh Phùng Văn Sướng, xóm Quốc Tuấn, xã Quảng Uyên mang lại doanh thu hơn 340 triệu đồng/năm. Ảnh Quốc Sơn. |
Xóm vùng cao khởi sắc
Cùng ông Lưu Xuân Hoà, Trưởng xóm Quốc Tuấn đi thăm các hộ trồng rau, tôi cảm nhận rõ sự khởi sắc của bản làng vùng cao nằm giữa màu xanh của núi rừng. Con đường bê tông phong quang dẫn vào từng ngõ xóm, hai bên là những ruộng rau, những giàn bí, giàn su su đang mùa thu hoạch.
Vừa đi, ông Hoà vừa hào hứng kể về những đổi thay của quê hương. “Ngày trước, bà con chủ yếu trồng ngô, lúa, khoai lang, nhà nào có điều kiện thì nuôi thêm vài con lợn, đàn gà. Mấy năm gần đây, được Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, bà con đã mạnh dạn thay đổi cách làm. Đường sá thuận lợi, sản xuất và tiêu thụ nông sản cũng dễ dàng hơn nên người dân có thêm động lực phát triển kinh tế”, ông Hoà chia sẻ.
Diện mạo xóm Quốc Tuấn hôm nay đã có nhiều thay đổi. Hệ thống đường làng, ngõ xóm được bê tông; một số tuyến đường nội đồng được cứng hoá, tạo thuận lợi cho sản xuất và vận chuyển nông sản sau thu hoạch. Hệ thống điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất được quan tâm đầu tư; một số công trình thuỷ lợi, mương dẫn nước được sửa chữa, nâng cấp, góp phần chủ động nguồn nước cho đồng ruộng. Những thiết chế phục vụ đời sống cộng đồng cũng được đầu tư, tình làng nghĩa xóm càng được tăng cường.
“Hạ tầng cơ sở được đầu tư, sản xuất thuận lợi hơn, đời sống từng bước được nâng lên, bà con rất phấn khởi. Trong xóm, nhà nào làm ăn hiệu quả thì có điều kiện sửa sang nhà cửa, mua sắm phương tiện, đầu tư cho con cái học hành. Xóm làng vì thế cũng ngày càng khởi sắc”, ông Hoà nói.
Theo ông Hoà, xóm vùng cao Quốc Tuấn có 192 hộ, đều là đồng bào dân tộc Nùng An. Trong quá trình sản xuất, người dân nhận thấy nếu chỉ trông chờ vào cây ngô và một số cây trồng truyền thống thì giá trị trên một đơn vị diện tích còn thấp.
Từ thực tế ấy, nhiều hộ đã chuyển đổi một phần diện tích sang trồng rau màu, Đến nay, xóm có hơn 100 hộ trồng rau với diện tích hơn 30 ha. Bà con tổ chức sản xuất luân canh quanh năm, lựa chọn các loại rau phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và nhu cầu thị trường, như bí xanh, su su, đỗ cô ve, củ cải, cải bắp, cải bao, cà chua, cà tím… Bình quân hộ trồng ít cũng hơn 1.000 m2, hộ trồng nhiều trên 5.000 m2. Thu nhập từ rau màu của các gia đình từ vài chục triệu đến trăm triệu đồng mỗi năm.
“Bà con bây giờ hay nói vui đây là ‘vùng đất không nghỉ, bốn mùa xanh’. Mỗi mùa một loại rau, vừa tận dụng được đất, vừa tăng hệ số sử dụng đất, mà thu nhập cũng cao hơn nhiều so với trước. Toàn xóm hiện đạt sản lượng khoảng hơn 400 tấn rau màu các loại mỗi năm”, ông Hoà cho biết.
Điều đáng nói, cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tư duy sản xuất của đồng bào Nùng An ở đây cũng từng bước thay đổi. Trước đây sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thì nay bà con đã quan tâm hơn đến kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, lựa chọn giống, thời vụ và phương thức canh tác an toàn.
![]() |
| Gia đình bà Lục Thị Thái, xóm Quốc Tuấn, xã Quảng Uyên doanh thu hơn 100 triệu đồng mỗi năm từ trồng rau màu. Ảnh Quốc Sơn |
Làm giàu từ những mùa xanh
Trong số những hộ gắn bó lâu năm với nghề trồng rau, gia đình bà Lục Thị Thái là một điển hình. Hơn 10 năm trước, trên diện tích 5.000 m2, gia đình bà chủ yếu trồng ngô. Mỗi năm thu khoảng 3 tắn ngô, với giá bán khoảng 6.000 đồng/kg, doanh thu chỉ khoảng 18 triệu đồng.
Sau khi chuyển sang trồng rau màu, gia đình bà dành 4.000 m2 trồng bí xanh luân canh với su su và 1.000 m2 trồng cải bao, củ cải. Riêng bí xanh mỗi năm cho thu khoảng 10 tấn quả, giá bán bình quân 8.000 đồng/kg, doanh thu đạt khoảng 80 triệu đồng. Su su cho sản lượng khoảng 3 tấn quả/năm, giá bán bình quân 6.000 đồng/kg, thu thêm khoảng 18 triệu đồng. Các loại cải bao, củ cải đem lại khoảng 6 triệu đồng mỗi năm. Tổng doanh thu các loại rau màu từ diện tích này hơn 100 triệu đồng/năm, cao hơn 5 lần so với trồng ngô trước đây.
“Sau khi thấy nhiều hộ trong xóm trồng rau có hiệu quả, gia đình tôi mạnh dạn chuyển đổi. Ban đầu cũng lo vì chưa có kinh nghiệm, nhưng làm dần rồi quen. Bây giờ đất đai được sử dụng quanh năm, thu nhập cao hơn hẳn”, bà Thái chia sẻ.
Theo bà Thái, sản xuất rau sạch, người trồng phải chịu khó thay đổi cách làm, sử dụng phân chuồng đã ủ hoai mục để bón cho cây, làm cỏ thủ công và chú trọng chăm sóc đúng kỹ thuật ngay từ đầu. Rau đảm bảo chất lượng, an toàn thì thương lái mới quay lại mua. Bí xanh của gia đình hiện được thương lái đến tận nhà thu mua, các loại rau khác chủ yếu tiêu thụ tại thị trường trong tỉnh.
Không chỉ trồng rau, gia đình anh Phùng Văn Sướng còn kết hợp sản xuất với chăn nuôi, từng bước hình thành mô hình tương đối khép kín.
Trên diện tích 5.500 m2 trước đây gia đình anh chủ yếu trồng ngô. Năm 2010, anh dành 200 m2 trồng thử bí xanh. Sau 6 tháng, diện tích này cho thu khoảng 4 tạ quả, bán với giá 3.000 đồng/kg, thu được 1,2 triệu đồng. Khoản thu tuy chưa lớn, nhưng đã giúp gia đình anh thấy tiềm năng của cây rau màu.
“Tôi nghĩ, nếu làm được nhiều hơn chắc hiệu quả sẽ cao hơn trồng ngô. Vì vậy, gia đình vừa làm vừa học hỏi kinh nghiệm, sau đó mở rộng dần diện tích”, anh Sướng kể.
Đến năm 2015, gia đình anh Sướng mở rộng lên 5.000 m2 trồng bí xanh, bí đỏ luân canh su su và 500 m2 trồng cải bắp, cải bao. Mỗi năm thu khoảng 10 tấn bí, doanh thu 80 triệu đồng; su su khoảng 3 tấn, doanh thu 18 triệu đồng; cải bắp, cải bao doanh thu khoảng hơn 4 triệu đồng. Tổng doanh thu từ rau màu đạt hơn 100 triệu đồng/năm.
Gia đình anh Sướng còn duy trì nuôi hai lứa lợn mỗi năm, mỗi lứa khoảng 20 con. Bình quân mỗi con khi xuất chuồng đạt khoảng 1 tạ, tổng sản lượng lợn hơi khoảng 4 tấn/năm. Với giá bán bình quân 60.000 đồng/kg, doanh thu đạt khoảng 240 triệu đồng/năm.
“Mô hình trồng rau kết hợp chăn nuôi giúp gia đình tận dụng nguồn phụ phẩm, giảm chi phí sản xuất. Phân chuồng sau khi được xử lý, ủ hoai mục được sử dụng để bón cho rau; một phần rau dập nát, thải loại được tận dụng làm thức ăn phụ thêm cho đàn lợn”, anh Sướng cho biết.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, anh Sướng còn đầu tư hai xe ô tô khách để chạy dịch vụ theo hợp đồng cưới hỏi, phục vụ khách du lịch, mỗi năm có thêm nguồn thu hơn 200 triệu đồng.
Hiệu quả kinh tế từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại xóm Quốc Tuấn ngày càng rõ nét. Theo ông Lưu Xuân Hoà, Trưởng xóm Quốc Tuấn, việc chuyển đổi cây trồng không chỉ giúp người dân nâng cao thu nhập mà còn tạo chuyển biến tích cực trong tư duy sản xuất. Từ phương thức canh tác truyền thống, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, bà con từng bước chuyển sang sản xuất sạch, an toàn và hướng đến hình thành sản xuất hàng hoá.
“Trồng rau màu có giá trị sản xuất cao hơn nhiều lần so với trồng ngô trên cùng diện tích nếu được tổ chức sản xuất phù hợp. Mô hình này đồng thời tạo thêm việc làm cho các hộ gia đình, hạn chế tình trạng đất bỏ hoang hoặc chỉ canh tác một vụ. Duy trì sản xuất rau luân canh quanh năm vừa giúp tăng thu nhập, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng từng diện tích đất”, ông Hoà cho biết.
Mặt trời đã đứng bóng, trên những ruộng rau, giàn bí, người dân vẫn tất bật chăm sóc, thu hái sản phẩm. Từ những thửa ruộng vốn chỉ quen với cây ngô, bà con Nùng An ở xóm Quốc Tuấn đã từng bước thay đổi cách làm, để đất được khai thác quanh năm. Những mảnh ruộng “không nghỉ” đang góp phần tạo nên diện mạo một xóm vùng cao “bốn mùa xanh”.
Từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xóm Quốc Tuấn đang mở ra hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp theo hướng sạch, an toàn, nâng cao giá trị sử dụng đất và tạo ra những sản phẩm nông nghiệp chất lượng, góp phần cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống người dân, tạo nền tảng để kinh tế hộ gia đình phát triển bền vững. Đó cũng là câu chuyện về một xóm vùng cao đang từng ngày biến những thửa ruộng thành những mùa xanh.